Chương 3: Bà Tư Quạ
Khôi không ngủ được nữa cho tới sáng. Ba tiếng gõ đó, anh đã cố giải thích: gỗ co lại trong đêm lạnh, mối mọt. Nhưng tay anh vẫn còn nhớ cái cảm giác rung động đều đặn, có chủ ý, ba tiếng cách nhau đúng nhịp. Gỗ co thì không co theo nhịp như vậy.
Trời hửng, ngoài sân có tiếng chân. Khôi ngồi bật dậy.
Một bà già bước vào. Lưng còng, người nhỏ thó, bộ bà ba đen đã bạc, đầu quấn khăn rằn, chống cây gậy tầm vông. Da bà đen sạm, nhăn nhúm như vỏ trái me khô, mà đôi mắt thì sáng quắc, sắc như mắt chim, đảo một vòng quanh gian nhà rồi dừng lại trên mặt Khôi.
- Con là thằng Khôi.
Không phải một câu hỏi. Khôi đứng dậy, hơi cúi đầu.
- Dạ. Bà là... bà Tư hả bà. Bà gọi cho con.
Bà Tư Quạ gật. Bà đứng ở ngạch cửa, đưa mắt nhìn cái quan tài phủ vải điều, mấy lá bùa, đường chỉ ngũ sắc niêm quanh mép hòm, gật gù như đang kiểm lại việc người ta đã làm.
Rồi bà bước vào, đặt cây gậy dựa vách, đến trước quan tài thắp nhang, vái ba vái, đứng lặng, môi mấp máy nói gì đó rất khẽ mà Khôi không nghe được, như đang xin lỗi, hoặc đang hứa hẹn với người trong hòm.
Xong, bà quay lại nhìn Khôi, ánh mắt dịu xuống một chút.
- Con giống ông nội con hồi trẻ. Cái trán, cái sống mũi, y chang.
Bà Tư ngồi xuống cái ghế đẩu, ra dấu cho anh ngồi đối diện. Mấy người bà con ở gian bên đang lục đục nấu nước. Bà liếc qua họ, hạ giọng, chỉ vừa đủ cho Khôi nghe.
- Đêm qua con có nghe gì không.
Khôi sững người, tóc gáy dựng lên. Anh chưa kể với ai về ba tiếng gõ, định bụng giấu, vì kể ra nghe điên rồ.
- Bà... sao bà biết.
Bà Tư không trả lời, chỉ nhìn anh, cái nhìn của người đã biết câu trả lời từ trước. Rồi bà thở ra một hơi dài.
- Con ngồi đó, bà kể con nghe. Mà con phải hứa: nghe cho hết, đừng cắt ngang, đừng cười bà già này khùng. Kể xong, con muốn tin hay không, tùy con. Được hông.
Khôi nhìn vào đôi mắt sắc của bà, cái gì đó trong đó khiến anh không cười nổi, đành gật đầu.
- Dạ. Con nghe.
Bà Tư Quạ vấn một điếu thuốc rê, châm lửa, rít một hơi, khói tỏa quanh khuôn mặt nhăn nheo, rồi bắt đầu kể, giọng đều đều.
- Con biết ông nội con làm nghề gì hông. Người ta kêu ông là thầy thuốc. Ông biết bốc thuốc thiệt. Mà đó là cái nghề ông làm cho người ta thấy. Còn cái nghề thiệt, cái nghề ông cha ông để lại mấy trăm năm rồi... là nghề giữ.
- Giữ. Giữ cái gì hả bà.
Bà Tư đưa mắt xuống nền nhà, như nhìn xuyên qua nó xuống sâu bên dưới.
- Giữ cái thứ bị nhốt dưới núi này.
- Hồi xa lắc xa lơ, hồi chưa có cái xóm này, dưới mấy ngọn Bảy Núi này người ta có chôn một số thứ. Chôn không phải để giấu của, mà để nhốt mấy cái thứ dữ, thứ đói. Mỗi chỗ chôn, người xưa đặt một cái dấu, một cái khóa, kêu là ấn.
- Cái nằm dưới chỗ Vồ Đá, chỗ ông con nằm chết, là một cái nhỏ, người trong nghề kêu là tiểu ấn. Nó nhốt một con dữ lắm. Người xưa đặt tên cho nó để mà tránh. Tên nó là...
Bà Tư ngừng lại, liếc ra cửa, liếc lên mấy lá bùa trên quan tài, như sợ gọi tên ra thì nó nghe. Rồi bà hạ giọng, gần như chỉ còn hơi:
- Cái Đói.
Khôi nuốt nước miếng.
- Cái Đói nó không ăn cơm ăn cá như mình. Nó hút sạch cái sống trong người ta ra, nước, máu, hơi thở, bỏ lại cái xác khô. Hồi xưa nó hoành hành, làng mạc chết khô cả vùng, cho tới khi có người nhốt nó lại, đặt cái ấn lên, cắt cử người canh.
- Người canh đó là dòng họ Phan nhà con. Mấy trăm năm, đời nào cũng có một người giữ cho cái ấn đừng rạn, con Cái Đói đừng thức. Ông cố con giữ, ông nội con giữ. Bây giờ ông nội con nằm trỏng rồi...
Bà bỏ lửng câu nói. Khôi hiểu phần còn lại, thấy lạnh toát.
- Khoan đã bà. Bà nói... con. Là tới phiên con hả. Con đâu biết gì đâu bà. Con sống ở Sài Gòn, con làm thiết kế, con đâu biết bùa ngải gì.
- Bà biết con không biết. Ông nội con cố ý không cho con biết, ông thương con, muốn con đi học đi làm trên đó, đừng dính vô cái nghiệp này. Ông tính giữ một mình cho tới chết rồi thôi, để cái ấn tự lo. Mà...
Bà dụi điếu thuốc xuống nền nhà, giọng trầm hẳn.
- Mà nó không thôi được con à. Cái ấn già rồi, rạn rồi. Mấy năm nay bà với ông nội con biết, con Cái Đói dưới đó cựa quậy. Mà tệ hơn, là có người muốn nó thức.
- Người nào. Ai mà muốn cái thứ đó thức.
Bà Tư nhìn ra cái nắng ngoài sân, một lúc lâu mới nói, giọng khô khốc:
- Có một bọn chuyên đi mở mấy cái ấn này ra, kiếm chỗ nào có ấn là tới phá. Tụi nó kêu là Hội Mở Ấn, tin mở mấy cái dấu này ra thì được quyền phép, trường sanh.
Bà chỉ biết tụi nó là thứ trời đánh. Tụi nó cho một thằng tới đây, tên thầy Năm Bạo, lảng vảng quanh núi mấy tháng nay, dòm ngó cái buồng nhà con. Nó muốn cái hũ.
- Cái hũ. Bà nhắc cái hũ hoài. Trong điện thoại bà cũng dặn con đừng để cái hũ rớt vô tay nó. Cái hũ gì hả bà.
Bà Tư lần trong túi áo, lôi ra một cái túi vải nhỏ, miệng buộc chỉ ngũ sắc, màu đã bạc, đặt lên bàn giữa hai người, nhìn nó như nhìn một thứ vừa quý vừa độc.
- Cái này, bà lấy trên người ông nội con, lúc tìm thấy ông trên Vồ Đá. Ông giấu trong ngực.
Bà mở miệng túi. Bên trong là một mảnh giấy gập tư đã ngả vàng, và một cái chìa khóa.
Một cái chìa khóa bằng đồng, cũ kỹ, lên nước đen bóng. Đầu chìa không tròn mà rèn thành một cái dấu, những đường nét gãy gập nhọn hoắt, giống y mấy lá bùa son trên quan tài.
- Đây là chìa khóa cái buồng cấm sau bếp, cái buồng bà dặn con đừng tới. Trong đó là chỗ ông nội con canh cái ấn mấy chục năm nay, trong đó có cái hũ.
Bà đẩy cái chìa khóa về phía Khôi. Anh nhìn mà không dám cầm, cổ họng khô lại.
- Bà cho con cái này làm chi. Bà vừa dặn con đừng tới gần mà.
Bà Tư Quạ nhìn anh, ánh mắt vừa thương vừa mệt mỏi.
- Tại vì bây giờ khác rồi con. Người giữ đã chết mà chưa truyền lại cho người kế, thì cái ấn yếu nhứt, như nhà không chủ, cửa mở toang.
Thằng Năm Bạo chờ đúng lúc này. Đêm qua con nghe ba tiếng gõ trong hòm, con biết là cái gì hông. Đó là điềm. Con Cái Đói nó đang dòm lên. Nó biết người giữ chết rồi.
Bà chồm tới, nắm lấy cổ tay Khôi, bàn tay gầy guộc cứng như rễ cây, lạnh ngắt.
- Bà già rồi, giữ không nổi. Bà chỉ là người phụ, đi kế bên người giữ họ Phan. Mà người giữ phải là máu mủ nhà con, cái ấn mới nhận. Bây giờ trong dòng họ này, chỉ còn mình con.
Khôi rút tay lại, đầu quay cuồng.
- Bà. Con xin lỗi bà. Con thương ông nội con thiệt. Mà mấy chuyện bà kể... con không tin được. Ấn với ngải, con dữ ăn người, hội mở ấn... Ông con chắc bị bệnh, té trên núi, hoặc nắng quá mà mất. Người ta đồn rồi thêm thắt thôi. Con là người có học, con không thể...
Anh nói tới đó thì khựng lại. Vì anh sực nhớ ba tiếng gõ, nhớ ánh mắt cả xóm, nhớ cái quan tài niêm bùa.
Bà Tư không giận, chỉ gật gù như đã lường trước phản ứng này.
- Bà biết con không tin. Hồi đó ba con cũng không tin. Thôi, để sau. Bà chỉ xin con cầm cái chìa khóa này, cất kỹ, đừng đưa cho ai.
Nhứt là một thằng đàn ông lạ, người gầy, mặc đồ đen, một bên mắt có cái sẹo. Đó là thằng Năm Bạo. Nó tới hỏi con cái gì, con đừng tin, đừng mở buồng cho nó.
Khôi cầm cái chìa khóa lên. Nó nặng hơn anh tưởng, lạnh ngắt. Anh nhìn cái dấu kỳ lạ ở đầu chìa, và không hiểu sao, thấy nó quen, như đã thấy trong một giấc mơ rất xa.
- Còn cái này nữa.
Bà Tư mở mảnh giấy gập tư ra. Bên trên là chữ viết tay, Khôi nhận ra ngay nét chữ ông nội, run rẩy, nguệch ngoạc như viết vội trong đêm. Chỉ mấy dòng.
"Khôi. Nếu con đọc được cái này thì ông đã đi rồi. Ông xin lỗi con. Lẽ ra ông phải nói sớm. Cái buồng sau bếp, con đừng để ai vô.
Con Lệ trong hũ, nó là của nhà mình, nó không hại con. Nó giữ giùm nhà mình mấy đời nay. Con nghe lời bà Tư. Và con nhớ, dù có chuyện gì, đừng để..."
Câu cuối bỏ dở, nét chữ kéo dài ra một vệt, như cây bút bị giật khỏi tay.
- Con Lệ là ai hả bà. Khôi ngẩng lên. Ông con viết "con Lệ trong hũ".
Bà Tư nhìn anh, trong mắt có cái gì gần như dịu dàng, mà cũng gần như sợ.
- Lệ là con ngải của nhà con. Con ngải linh. Ông cha con nuôi nó mấy đời, lấy nó giữ cái ấn, canh con Cái Đói. Nó không phải người, cũng không hẳn là vật. Con đừng hỏi nhiều, mai mốt sẽ hiểu. Bây giờ con chỉ cần biết con Lệ là phe mình, con Cái Đói là kẻ thù.
Bà đứng dậy, chống gậy, có vẻ mệt.
- Bà về chòi nghỉ chút, chiều bà qua. Đám ma ông con phải giữ đủ ba ngày mới chôn được, mới yên. Ba ngày này con ráng nghe lời bà. Đừng đi đâu một mình, đừng ra núi. Cái buồng sau bếp, chừng nào bà biểu thì mới mở. Trong đó bây giờ nguy hiểm lắm.
Bà đi ra tới cửa thì dừng lại, dặn thêm câu chót:
- À. Con để ý, trong nhà mà tự nhiên con nghe mùi gì như đồ khô, cháy nắng, như cá khô để lâu, thì chạy lại bàn thờ, đốt nhang cho nhiều, rồi kêu bà. Cái mùi đó là con Cái Đói.
Rồi bà đi.
Khôi ngồi lại với cái chìa khóa đồng và mảnh giấy bỏ dở, đầu rối bời. Một nửa anh, cái nửa lý trí dân thành phố, cười nhạt, bảo đây toàn là mê tín. Nửa kia, cái nửa anh đã chôn từ hồi rời quê, đêm qua đã nghe rõ ba tiếng gõ, thì run lên.
Cả ngày hôm đó nặng nề. Khôi lo việc tang, tiếp mấy người tới viếng ít ỏi và vội vã. Chiều bà Tư qua, ngồi với anh tới khuya, chỉ canh chừng, gần nửa đêm mới về.
Đêm thứ hai.
Lại cái yên tĩnh kỳ lạ, không dế, không ếch nhái. Khôi ngồi một mình bên quan tài, cố thức canh đèn, lấy mảnh giấy của ông nội ra đọc đi đọc lại cái câu bỏ dở. Đừng để... đừng để cái gì. Ông muốn dặn anh đừng để cái gì.
Anh để cái chìa khóa đồng trên bàn, ánh nến hắt lên làm cái dấu ở đầu chìa nhập nhòe như đang động đậy. Sự tò mò lớn dần. Cả tuổi thơ sống ở căn nhà này, anh chưa từng vào cái buồng sau bếp.
Bây giờ anh biết trong đó là cái hũ, là con Lệ, là chỗ ông nội canh con Cái Đói suốt mấy chục năm. Anh tự nhủ anh chỉ muốn nhìn cho hiểu ông nội đã sống với cái gì.
Anh là người không tin ma quỷ. Nếu trong đó chỉ là cái hũ sành đựng rễ cây ngâm rượu, anh sẽ chứng minh được tất cả chỉ là mê tín, rồi yên tâm chôn ông, về Sài Gòn, sống tiếp đời mình.
Anh cầm đèn dầu, đứng dậy, đi về phía cánh cửa gỗ thấp tối om sau bếp. Mỗi bước chân nghe rõ mồn một, ngọn đèn dầu chao đảo, kéo cái bóng anh dài ngoằng trên vách.
Cửa buồng cấm gỗ lim đen sì, thấp, chỉ tới ngực anh. Ổ khóa đồng to, cũ, cùng kiểu với cái chìa. Trên cánh cửa dán đầy bùa cũ kỹ vàng ố, chữ son đã phai, có lá long ra một góc đung đưa.
Khôi đứng trước cửa, tay cầm chìa, tim đập thình thịch. Anh đưa chìa lại gần ổ khóa.
Và ngay khi đầu chìa sắp chạm vào ổ, từ bên trong cánh cửa, vang lên một âm thanh.
Một tiếng cào.
Dài. Chậm. Sồn sột. Như móng tay, hay móng vuốt, kéo lê trên mặt gỗ từ trên xuống dưới, ngay sau cánh cửa, cách mặt Khôi đúng một gang tay.
Rồi nó cào lần nữa. Sồn. Sột.
Như có thứ gì đó bên trong cái buồng khóa kín mấy chục năm kia, vừa nghe tiếng chân anh, vừa ngửi thấy hơi anh, đang cào lên cửa, đòi ra.